Pháp lệnh về Tài trợ và Khuyến khích Văn hóa và Nghệ thuật|第 3 條|Văn hóa và nghệ thuật|Luật|Đang có hiệu lực
第 一 章|文化部|v1.0
Sửa đổi Lần cuối: 2021-05-19
Thuật ngữ "văn hóa và nghệ thuật" như được đề cập trong Luật này đề cập đến các dạng sống, hệ thống giá trị và những biểu hiện sáng tạo độc đáo của các nhóm xã hội đa dạng. Phạm vi văn hóa, nghệ thuật bao gồm các vấn đề sau: 1. Bảo tồn, duy trì, kế thừa, phát huy tài sản văn hóa, văn hóa, nghệ thuật truyền thống. 2. Sáng tạo, biểu diễn và quảng bá văn học, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật nghe nhìn, nghệ thuật kỹ thuật số và các loại hình nghệ thuật khác. 3. Kế thừa và phát huy ngôn ngữ dân tộc, văn hóa đa dân tộc. 4. Xuất bản, quảng bá văn bản, âm thanh, hình ảnh hoặc các hình thức khác. 5. Khuyến khích và phát triển hoạt động sáng tạo, phổ biến văn hóa phim, âm nhạc, nghe nhìn. 6. Nghiên cứu, quảng bá, thực hành và phát triển văn hóa tri thức đa dạng. 7. Tạo dựng cộng đồng, kế thừa và phát huy trí tuệ, kiến thức và văn hóa địa phương. 8. Việc thành lập, vận hành và quản lý bảo tàng, thư viện, địa điểm triển lãm và các cơ sở hoặc không gian văn hóa khác. 9. Khuyến khích và phát triển giáo dục văn hóa và trải nghiệm nghệ thuật. 10. Đổi mới phát triển công nghệ văn hóa, bảo tồn tư liệu văn hóa, sáng tạo và ứng dụng phái sinh. 11. Sáng tạo, quảng bá và phát triển du lịch văn hóa tại địa phương. 12. Thúc đẩy trao đổi văn hóa quốc tế, đại lục, Hồng Kông và Macao. 13. Bồi dưỡng nhân tài văn hóa, nghệ thuật chuyên môn, hành chính và liên ngành. 14. Điều tra, nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật. 15. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật khác được cấp có thẩm quyền trung ương thừa nhận. Thuật ngữ "các hoạt động văn hóa và nghệ thuật" như được đề cập trong Luật này dùng để chỉ các tổ chức, trường học, pháp nhân, nhóm hoặc công ty tham gia vào các hoạt động văn hóa và nghệ thuật được đề cập ở khoản trước; Người lao động văn hóa và nghệ thuật là những người tham gia vào các hoạt động văn hóa và nghệ thuật được đề cập ở khoản trước.