Chuyển đến nội dung chính
Nhập môn kinh ngắn

Tụng Bát Nhã Tâm Kinh thế nào? Chú âm dễ đọc sai, ngắt câu và nhập môn âm đọc văn ngôn tiếng Đài

Bát Nhã Tâm Kinh (心經) chỉ có một quyển ngắn, nhưng chỗ khó thật sự lại rất tập trung: thuật ngữ Phật giáo không phải chữ dùng hằng ngày, câu dài không có dấu câu rõ ràng, còn đoạn thần chú thì không thể chỉ dựa vào cách đọc chữ Hán thông thường mà đoán.

Tác giả: Giảng viên Zheng Su-Xia Cập nhật: 2026-09-15 Thời gian đọc: Khoảng 9 phút
Bản khóa tụng Tâm Kinh mở ra với các ký hiệu ranh giới câu và chỗ lấy hơi
Ngắn không có nghĩa là được bỏ qua việc ngắt câu; đánh dấu rõ các chỗ ngừng thì giọng mới không bị dồn cục lại.
Trả lời ngắn gọn

Khi luyện Tâm Kinh, hãy đánh dấu ba lớp trên cùng một bản kinh: cách đọc chữ chưa quen, chỗ ngừng giữa các đơn vị nghĩa, và vị trí thực sự lấy hơi. Bản dịch của Huyền Trang có tổng cộng 260 chữ (chánh văn 242 chữ + thần chú 18 chữ, đối chiếu CBETA T0251). Những từ hay đọc sai nhất là 般若 (ㄅㄛ ㄖㄜˇ, Bát Nhã), 舍利子 (ㄕㄜˋ, Xá Lợi Tử), 罣礙 (ㄍㄨㄚˋ ㄞˋ, quái ngại), 揭諦 (ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ, yết đế); bài này lập bảng từng chữ theo từ điển của Bộ Giáo dục. Chú âm tiếng Hoa phổ thông và cách tụng tiếng Đài là hai hệ thống âm thanh khác nhau; hãy chọn một bản tụng mẫu trọn vẹn rồi đọc theo từng câu, đoạn thần chú thì hiệu chỉnh riêng theo phiên bản đang dùng.

Tâm Kinh rất ngắn, vì sao người mới vẫn dễ bị vấp?

Tâm Kinh đồng thời có từ vựng dịch kinh, mẫu câu lặp lại và phần thần chú phiên âm. Người đọc nếu chỉ nhìn dấu câu hiện đại thường coi “dấu chấm về nghĩa” và “chỗ lấy hơi về âm” là một, kết quả là hoặc một hơi quá dài, hoặc dừng ở chỗ không tự nhiên.

Hướng dẫn khóa tụng tại gia do Pháp Cổ Sơn công bố xếp Tâm Kinh vào cả thời khóa sáng lẫn thời khóa tối; phần hỏi đáp về pháp môn Quán Âm cũng xếp Tâm Kinh cùng Chú Đại Bi và Phẩm Phổ Môn là những pháp tu thường gặp. Điều này cho thấy Tâm Kinh thường xuất hiện trong thực tế khóa tụng, nhưng thứ tự trước sau mà mỗi truyền thống áp dụng vẫn có thể khác nhau.

Đối chiếu tài liệu: Pháp Cổ Sơn, “Phật tử tại gia khóa tụng thế nào?” (vị trí của Tâm Kinh trong thời khóa sáng tối), Pháp Cổ Sơn, “Tu trì pháp môn Quán Thế Âm Bồ Tát có gì khác nhau?” (Tâm Kinh, Chú Đại Bi và Phẩm Phổ Môn)

Trước hết hãy xác nhận phiên bản văn bản trong tay

Các cách trình bày khác nhau có thể có dấu câu và xuống dòng khác nhau. Nếu chuẩn bị cộng tu tại đạo tràng, hãy theo bản khóa tụng đạo tràng sử dụng; tự luyện cũng đừng hôm nay xem trang web, mai lại đổi sang một tấm hình chú âm khác.

Đối chiếu tài liệu: CBETA, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh T0251 (đối chiếu phiên bản kinh văn)

Đánh dấu chú âm, ngắt câu và lấy hơi của Tâm Kinh riêng ra thế nào?

Ba lớp đánh dấu, mỗi lớp giải quyết một vấn đề khác nhau
Lớp đánh dấuVấn đề giải quyếtVí dụ
Âm chữ Nhận ra những chữ trong kinh khiến bạn lưỡng lự Chỉ đánh dấu từ chưa quen như 般若 (Bát Nhã), không phủ kín cả trang
Đơn vị nghĩa Nhìn ra đoạn ý kết thúc ở đâu Dùng một gạch chéo chia câu nhỏ, hai gạch chéo chia đoạn lớn
Lấy hơi Phù hợp với hơi thở của bản thân và bản tụng mẫu trọn vẹn Đánh dấu riêng chỗ thực sự hít vào, không đồng nghĩa với dấu câu
  1. Lớp thứ nhất: chỉ đánh dấu chữ chưa quen

    Đừng phủ chú âm lên mọi chữ. Chỉ đánh dấu những chữ khiến bạn lưỡng lự, để mắt vẫn thấy được toàn văn kinh.

  2. Lớp thứ hai: vạch đơn vị nghĩa

    Dùng một gạch chéo chia câu nhỏ, hai gạch chéo chia đoạn lớn; trước hết biết một câu nói trong phạm vi nào, rồi mới quyết định giọng đi thế nào.

  3. Lớp thứ ba: đánh dấu chỗ lấy hơi

    Chỗ lấy hơi không nhất thiết trùng với dấu câu. Hãy đánh dấu trước theo độ dài hơi thở của mình, rồi hiệu chỉnh theo bản ghi âm mẫu hoặc sự dẫn tụng của thầy.

Tách ba lớp này ra rồi, khi đọc sai bạn cũng biết vấn đề nằm ở đâu: âm chữ chưa quen, ngắt câu sai hay thiếu hơi. Đừng quy mọi vấn đề thành “tôi không có căn cơ” hay “trí nhớ tôi kém”.

12 từ hay đọc sai nhất trong Tâm Kinh đọc thế nào?

Hãy nhớ bốn từ trước: 般若 (ㄅㄛ ㄖㄜˇ), 舍利子 (ㄕㄜˋ), 罣礙 (ㄍㄨㄚˋ ㄞˋ), 揭諦 (ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ). Chú âm của cả 12 từ trong bảng dưới đây đều được đối chiếu từng chữ theo “Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại, bản hiệu đính” của Bộ Giáo dục Đài Loan; từ điển lập riêng âm đọc này cho hai chữ 般 (ㄅㄛ) và 若 (ㄖㄜˇ), kèm ghi chú “xem mục 般若 (Bát Nhã)”, vì vậy không đọc theo âm thường ngày ㄅㄢ ㄖㄨㄛˋ. Từ điển giải quyết việc “chữ này đọc tiếng Hoa phổ thông thế nào”; giọng tụng, nối âm và âm đọc văn ngôn tiếng Đài trong khóa tụng vẫn lấy bản tụng mẫu trọn vẹn của đạo tràng bạn nương theo làm chuẩn.

Chú âm tiếng Hoa phổ thông của 12 từ dễ đọc sai trong Tâm Kinh (theo Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại, bản hiệu đính của Bộ Giáo dục Đài Loan)
TừChú âmCâu kinh xuất hiệnGhi chú
般若 (Bát Nhã, trí tuệ) ㄅㄛ ㄖㄜˇ 行深般若波羅蜜多時 (khi hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa) Mục riêng trong từ điển; thường bị đọc nhầm thành ㄅㄢ ㄖㄨㄛˋ
五蘊 (ngũ uẩn) ㄨˇ ㄩㄣˋ 照見五蘊皆空 (soi thấy năm uẩn đều không) 蘊 (uẩn): tích tụ (khứ thanh)
苦厄 (khổ ách) ㄎㄨˇ ㄜˋ 度一切苦厄 (vượt qua mọi khổ ách) 厄 (ách) đọc là ㄜˋ
舍利子 (Xá Lợi Tử) ㄕㄜˋ ㄌㄧˋ ㄗˇ 舍利子!色不異空 (Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không) Mục riêng trong từ điển đọc ㄕㄜˋ; trong khẩu ngữ hay nghe ㄕㄜˇ
菩提薩埵 (Bồ Đề Tát Đỏa) ㄆㄨˊ ㄊㄧˊ ㄙㄚˋ ㄉㄨㄛˇ 菩提薩埵依般若波羅蜜多故 (Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố) 埵 (đỏa) đọc là ㄉㄨㄛˇ
罣礙 (quái ngại) ㄍㄨㄚˋ ㄞˋ 心無罣礙 (tâm không quái ngại) 罣 (quái) = vướng víu, ngăn trở; không phải 掛 (treo)
涅槃 (Niết Bàn) ㄋㄧㄝˋ ㄆㄢˊ 究竟涅槃 (cứu cánh Niết Bàn) Mục riêng trong từ điển
阿耨多羅三藐三菩提 (A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) ㄚ ㄋㄡˋ ㄉㄨㄛ ㄌㄨㄛˊ ㄙㄢ ㄇㄧㄠˇ ㄙㄢ ㄆㄨˊ ㄊㄧˊ 得阿耨多羅三藐三菩提 (đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) Từ điển chia thành hai mục 阿耨多羅 (A Nậu Đa La) và 三藐三菩提 (Tam Miệu Tam Bồ Đề)
咒 (chú) ㄓㄡˋ 是大神咒、是大明咒 (là đại thần chú, là đại minh chú) Mục đơn tự
揭諦 (yết đế) ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ 揭諦揭諦 (yết đế yết đế) Mục riêng trong từ điển; bản đáy Đại Chánh Tạng viết 揭帝 (yết đế)
波羅僧揭諦 (ba la tăng yết đế) ㄅㄛ ㄌㄨㄛˊ ㄙㄥ ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ 波羅僧揭諦 (ba la tăng yết đế) 波羅 (ba la) đọc ㄅㄛ ㄌㄨㄛˊ như trong mục 波羅蜜 (ba la mật)
薩婆訶 (tát bà ha) ㄙㄚˋ ㄆㄛˊ ㄏㄜ 菩提薩婆訶 (bồ đề tát bà ha) Từ điển không có mục từ này, đọc theo từng chữ; 訶 (ha) đọc thanh âm bình ㄏㄜ

Âm từ điển ≠ âm khóa tụng

Từ điển của Bộ Giáo dục cho âm chuẩn tiếng Hoa phổ thông, phù hợp với lớp “nhận mặt chữ”. Khi khóa tụng thực tế, cùng một chữ có thể khác nhau giữa các đạo tràng, các giọng tụng (kể cả âm đọc văn ngôn tiếng Đài) và cũng biến đổi khi đọc liền; tra từ điển xong vẫn phải hiệu chỉnh theo bản mẫu cả câu của thầy hoặc đạo tràng bạn định theo, đừng lấy từ điển để sửa đạo tràng.

Đối chiếu tài liệu: Bộ Giáo dục Đài Loan, Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại, bản hiệu đính

Tìm bản chú âm toàn văn Tâm Kinh đáng tin ở đâu?

Trước hết đối chiếu văn bản với bản dịch của Huyền Trang tại CBETA Đại Chánh Tạng T0251, rồi đọc theo chú âm trong bản khóa tụng của đạo tràng. Trên mạng có rất nhiều hình ảnh và PDF “Tâm Kinh chú âm toàn văn”, nhưng bản đáy văn tự không nhất thiết giống nhau: chỉ riêng đoạn thần chú cuối, bản đáy Đại Chánh Tạng viết “揭帝揭帝般羅揭帝般羅僧揭帝菩提莎婆訶” (yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề sa bà ha), còn Tạng đời Tống, Nguyên, Minh và bản lưu hành ngày nay viết “揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶” (yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha) (chú thích hiệu khám của CBETA), tiếng Phạn đều là Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. Chữ khác nhau, âm gần nhau; theo bản nào thì cố định dùng bản đó.

觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。……三世諸佛依般若波羅蜜多故,得阿耨多羅三藐三菩提。 (Bồ Tát Quán Tự Tại khi hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách. … Chư Phật ba đời y Bát Nhã Ba La Mật Đa nên đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.)

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (般若波羅蜜多心經), Huyền Trang dịch đời Đường, Đại Chánh Tạng tập 8 No. 251 (CBETA bản 2026-08)
Các phiên bản văn tự Tâm Kinh thường gặp, đối chiếu một lần trước khi đọc theo
Phiên bảnCách viết đoạn thần chúSố chữMục đích phù hợp
CBETA Đại Chánh Tạng T0251 (Huyền Trang dịch) 揭帝揭帝般羅揭帝般羅僧揭帝菩提莎婆訶 (yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề sa bà ha) 260 chữ (chánh văn 242 + thần chú 18) Đối chiếu văn bản xem có sót chữ, sai chữ không
Hệ Tạng đời Tống, Nguyên, Minh / bản khóa tụng lưu hành ngày nay 揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶 (yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha) 260 chữ Cộng tu tại đạo tràng, đọc theo trong thời khóa hằng ngày
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh (摩訶般若波羅蜜大明咒經) do Cưu Ma La Thập dịch Một bản lược khác, văn tự khác bản Huyền Trang — Dùng cho nghiên cứu so sánh, khóa tụng thông thường không dùng
  • Văn bản nguyên điển: Tạng kinh trực tuyến CBETA T0251, có chú thích hiệu khám cho biết mỗi dị thể tự xuất phát từ bản Tạng nào.
  • Chú âm khóa tụng: định cộng tu với đạo tràng nào thì dùng bản khóa tụng của đạo tràng đó; chú âm và ngắt câu lấy đó làm chuẩn, không dùng lẫn hình ảnh trên mạng.
  • Tra âm đọc từng chữ: đối chiếu từng chữ bằng Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại của Bộ Giáo dục (tiếng Hoa phổ thông) và Từ điển Từ thường dùng tiếng Đài Loan (tiếng Đài), chỉ dùng để nhận mặt chữ, không dùng để sửa giọng tụng.

Điểm chính của bài (có thể trích dẫn trực tiếp)

Bản thông dụng của Tâm Kinh là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh do Huyền Trang đời Đường dịch năm 649, toàn văn 260 chữ (chánh văn 242 chữ + thần chú 18 chữ, đối chiếu CBETA T0251); Đại Chánh Tạng còn thu nhận tổng cộng bảy bản Hán dịch kể cả bản của Cưu Ma La Thập (hai bản lược, năm bản quảng), tổng số các bản dịch đủ loại lên đến 184 (Mạng Thông tin Tôn giáo Toàn quốc của Bộ Nội vụ dẫn khảo chứng của Vạn Kim Xuyên). Đoạn thần chú, bản đáy Đại Chánh Tạng viết “揭帝/般羅/莎婆訶” (yết đế / ba la / sa bà ha), bản lưu hành viết “揭諦/波羅/薩婆訶” (yết đế / ba la / tát bà ha), tiếng Phạn đều là Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. Bốn từ hay đọc sai nhất: 般若 (ㄅㄛ ㄖㄜˇ), 舍利子 (ㄕㄜˋ), 罣礙 (ㄍㄨㄚˋ ㄞˋ), 揭諦 (ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ) (Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại của Bộ Giáo dục).

Đối chiếu tài liệu: CBETA, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh T0251 (đối chiếu phiên bản kinh văn), Mạng Thông tin Tôn giáo Toàn quốc của Bộ Nội vụ Đài Loan, “Tâm Kinh”

Vì sao âm đọc tiếng Đài của Tâm Kinh không thể chỉ nhìn chú âm tiếng Hoa phổ thông?

Tiếng Đài phổ biến có hiện tượng dị độc giữa âm văn ngôn và âm bạch thoại; kinh văn thực tế dùng âm nào vẫn nên lấy bản tụng mẫu trọn vẹn và đạo tràng nương theo làm chuẩn. Vì vậy “chữ này tôi nói được bằng tiếng Đài” không có nghĩa là đưa vào kinh văn thì nhất định dùng cùng một cách đọc.

Đối chiếu tài liệu: Từ điển tiếng Đài của Bộ Giáo dục, “dị độc văn bạch”

  • Nghe cả câu trước, đừng chỉ tra từng chữ rồi tự ghép lại.
  • Giữ cùng một giọng tụng, đừng trộn các đoạn âm của nhiều thầy khác nhau.
  • Khoanh tròn từ chuyển ý; một khi hiểu các mẫu câu lặp lại, việc ghi nhớ phần sau sẽ nhanh hơn nhiều.

Xử lý riêng đoạn thần chú

Thần chú cuối Tâm Kinh là chữ phiên âm. Cách luyện khác phần chánh văn, nên theo thẳng bản tụng mẫu trọn vẹn của phiên bản mình nương theo, không suy ngược từng chữ theo âm đọc thường ngày.

Tốc độ trước hết cần đều, sau mới cần thuần thục

Tuần đầu có thể chia toàn văn thành vài đoạn, mỗi lần chỉ xử lý âm chữ và chỗ ngừng của một đoạn; tuần thứ hai mới nối các đoạn lại. Nếu là thời khóa hằng ngày, thời gian và số biến điều chỉnh theo nếp sinh hoạt của mình và truyền thống nương theo.

Tốc độ thật sự theo kịp đại chúng không đến từ một lần lao nhanh, mà từ việc mỗi lần đều dừng ở cùng chỗ, bắt đầu ở cùng chỗ. Tâm Kinh ngắn, rất thích hợp để luyện điều này.

Câu hỏi thường gặp về chú âm và đọc theo Tâm Kinh

Có rất nhiều bản chú âm Tâm Kinh, nên chọn bản nào?

Chọn bản có nguồn rõ ràng, văn tự đầy đủ và khớp với thầy hoặc đạo tràng bạn định theo. Đừng chỉ nhìn hình đẹp hay thứ hạng tìm kiếm.

Tâm Kinh có nhất định phải tụng một hơi cho hết không?

Khóa tụng chính thức theo nghi quỹ mình nương theo; khi luyện tập có thể xử lý âm chữ và ngắt câu theo từng đoạn, rồi dần nối thành toàn văn.

Tâm Kinh tiếng Đài có thể tra từ điển tiếng Đài của Bộ Giáo dục rồi ghép từng chữ không?

Từ điển phù hợp để tra từng chữ, nhưng tụng kinh còn có âm văn ngôn, nối âm, ngữ điệu câu và giọng tụng. Tra xong từng chữ vẫn cần bản tụng mẫu trọn vẹn để hiệu chỉnh.

Tụng rất chậm có phải là thiếu trang nghiêm không?

Người mới đọc chậm là để đọc rõ âm chữ và ranh giới câu. Thuần thục rồi mới điều chỉnh tốc độ sẽ vững hơn là ngay từ đầu chạy theo tốc độ.

Chánh văn Tâm Kinh và đoạn thần chú cuối có luyện cùng một cách không?

Không hoàn toàn giống nhau. Chánh văn trước hết cần hiểu ranh giới câu; thần chú là chữ phiên âm, càng cần theo bản mẫu cả câu của một phiên bản cố định.

Toàn văn Tâm Kinh có bao nhiêu chữ?

Bản dịch thông dụng của Huyền Trang có toàn văn 260 chữ: chánh văn 242 chữ, thần chú cuối 18 chữ (đếm từng chữ theo CBETA Đại Chánh Tạng T0251, không tính tên kinh và dịch giả). Mục “Tâm Kinh” trên Mạng Thông tin Tôn giáo Toàn quốc của Bộ Nội vụ cũng ghi “toàn văn tuy chỉ 260 chữ”.

Vì sao 般若 (Bát Nhã) đọc ㄅㄛ ㄖㄜˇ mà không phải ㄅㄢ ㄖㄨㄛˋ?

Vì đó là phiên âm tiếng Phạn prajñā, không mang nghĩa của 一般 (“thông thường”) hay 如若 (“nếu như”). Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại của Bộ Giáo dục lập 般若 (Bát Nhã) thành mục riêng, đọc ㄅㄛ ㄖㄜˇ; hai chữ 般 (ㄅㄛ) và 若 (ㄖㄜˇ) cũng lập riêng âm này, kèm ghi chú “xem mục 般若 (Bát Nhã)”.

Thần chú 揭諦揭諦 (yết đế yết đế) đọc thế nào? Vì sao có bản viết 揭帝 (yết đế)?

Tiếng Hoa phổ thông đọc ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ, ㄅㄛ ㄌㄨㄛˊ ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ, ㄅㄛ ㄌㄨㄛˊ ㄙㄥ ㄐㄧㄝ ㄉㄧˋ, ㄆㄨˊ ㄊㄧˊ ㄙㄚˋ ㄆㄛˊ ㄏㄜ. 揭帝 (yết đế) là chữ dùng trong bản đáy Đại Chánh Tạng, Tạng đời Tống, Nguyên, Minh và bản lưu hành ngày nay viết 揭諦 (yết đế); cả hai đều là phiên âm của cùng một câu tiếng Phạn Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. Cứ theo bản khóa tụng của đạo tràng, không cần sửa chữ.

Kinh sách, mõ và pháp khí bằng đồng trên bàn thờ truyền thống, sợi chỉ đỏ tượng trưng cho âm thanh và nghi lễ được truyền qua nhiều thế hệ
Hình minh họa văn hóa nguyên bản tạo bằng ChatGPT; không phải đạo tràng, cách bài trí pháp khí hay ghi chép buổi học thực tế.

Khẩu truyền · Thanh truyền · Nghi truyền

Truyền thừa không chỉ là tụng hết kinh văn

Kinh sách lưu giữ chữ viết, người thầy truyền lại cách đọc, cách ngắt câu và cách bắt giọng, còn mõ và chuông dẫn lễ giúp tiếng của mọi người cùng tiến theo một nhịp. Những chi tiết này hợp lại mới thành một nền văn hóa tụng kinh có thể tiếp nối.

Tài liệu tham khảo: Kho ký ức văn hóa quốc gia Đài Loan, mục “Mõ”, Thư viện số Phật học Đại học Quốc lập Đài Loan, “Văn hóa âm nhạc Phật giáo Hán truyền bản địa Đài Loan”.

Nguồn tham khảo

Nội dung khóa tụng khác nhau tùy chùa và truyền thống; các tài liệu dưới đây dùng để đối chiếu phiên bản kinh văn và cách sắp xếp thời khóa tại gia.

  1. Pháp Cổ Sơn, “Phật tử tại gia khóa tụng thế nào?” (vị trí của Tâm Kinh trong thời khóa sáng tối)
  2. Pháp Cổ Sơn, “Tu trì pháp môn Quán Thế Âm Bồ Tát có gì khác nhau?” (Tâm Kinh, Chú Đại Bi và Phẩm Phổ Môn)
  3. CBETA, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh T0251 (đối chiếu phiên bản kinh văn)
  4. Bộ Giáo dục Đài Loan, Từ điển Từ thường dùng tiếng Đài Loan, quy ước biên soạn về “dị độc văn bạch”
  5. Bộ Giáo dục Đài Loan, Từ điển Quốc ngữ biên soạn lại, bản hiệu đính (các mục 般若 (Bát Nhã), 舍利子 (Xá Lợi Tử), 罣礙 (quái ngại), 揭諦 (yết đế), 涅槃 (Niết Bàn), 阿耨多羅 (A Nậu Đa La), 三藐三菩提 (Tam Miệu Tam Bồ Đề)…)
  6. Mạng Thông tin Tôn giáo Toàn quốc của Bộ Nội vụ Đài Loan, “Tâm Kinh” (Hùng Uyển, Thích Dĩnh Dung viết: 260 chữ, bảy bản Hán dịch, 184 bản dịch)

Đọc một trang Tâm Kinh thành một dòng âm thanh rõ ràng

Chụp lại bản kinh bạn đang dùng, cho giảng viên biết bạn muốn học tụng tiếng Hoa phổ thông hay tiếng Đài; từ âm chữ, ranh giới câu đến lấy hơi, sẽ được hiệu chỉnh từng đoạn một.

Hỏi về lớp học qua LINE LINE ID: @722chssi

Đọc thêm

Hỏi qua LINE